![]() |
|
| Giờ làm việc tại Trung tâm y khoa (Hòa hảo) |
Khoảng 170 triệu người trên thế giới bị nhiễm virus viêm gan C (HCV). Các trị liệu hiện nay đối với nhiễm HCV mạn tính (Bảng 34.1) chỉ có hiệu quả ở khoảng 50% bệnh nhân. Ngoài ra, các trị liệu đều tốn kém, kéo dài, liên quan với các tác dụng phụ đáng kể và không thích hợp cho tất cả bệnh nhân.
Nhiễm virus viêm gan C (HCV) là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh gan mạn tính trên khắp thế giới . Tác động lâu dài đến gan của sự nhiễm HCV biến thiên lớn, từ những thay đổi nhỏ về gan đến viêm gan mạn tính, xơ hóa mở rộng và xơ gan có hoặc không có ung thư biểu mô tế bào gan (HCC).
Virus viêm gan C (HCV) có thể được chia thành ít nhất 6 genotype chính và hơn 30 type phụ theo sự phát sinh chủng loại của các chuỗi HCV hiện có. Hơn nữa, ngay cả ở những bệnh nhân bị nhiễm virus với một type phụ HCV đơn độc, HCV lan truyền dưới dạng một nhóm các biến thể lên đến 10% khác biệt về chuỗi nucleotide, được gọi là các giả loài (quasi-species)...
Đã nhiều thập niên trôi qua , nhiều công trinh nghiên cứu và nhiều loại thuốc mới ra đời nhằm chống lại căn bệnh của thời đại: viêm gan virus B, C mạn tính. Nhưng cuộc chiến gần như vẫn còn quyết liệt vì số tử vong do xơ gan , ung thư gan vẫn còn cao và số bệnh nhân cần phải ghép gan vẫn còn tăng lien tục.
Xem chi tiếtCác khuyến cáo được cung cấp trong bài này đem lại một cách hỗ trợ bằng dữ liệu cho việc chẩn đoán, phân giai đoạn và điều trị những bệnh nhân được chẩn đoán bị ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Các khuyến cáo này dựa trên những điều sau đây:
Xơ gan là giai đoạn cuối cùng của bệnh gan mạn tính và là nguyên nhân quan trọng đưa đến tử vong, khoảng 800.000 người chết vì xơ gan mỗi năm. Người ta ước tính đến năm 2020 tỉ lệ người viêm gan C có xơ gan tăng gấp đôi từ 16% đến 32% và tỉ lệ chết vì bệnh gan tăng 180%.
Nhiễm virus viêm gan C (HCV) là nhiễm virus truyền qua đường máu mạn tính thường gặp nhất ở Mỹ, với khoảng 3,2 triệu người bị nhiễm virus mạn tính . Trong số những người bị nhiễm virus mạn tính, 60-70% phát triển bệnh gan mạn tính. Trong khi hầu hết bệnh nhân được sinh thiết gan trước khi điều trị nhiễm HCV mạn tính, ích lợi của việc sinh thiết thường quy tiếp tục được tranh luận.
Xơ gan là một đáp ứng mô không đặc hiệu đối với viêm mạn tính liên quan với tổn thương mô chưa được giải quyết. Xơ gan – giai đoạn kết thúc của xơ hóa – là nguyên nhân chính của tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong bệnh gan mạn tính . Vì vậy, việc đánh giá mức độ xơ hóa (giai đoạn) thường là một điều kiện tiên quyết đối với việc quản lý và theo dõi bệnh nhân bị bệnh gan mạn tính ...
Thời gian điều trị tối ưu khi dùng peginterferon alfa-2a kết hợp ribavirin đã được nghiên cứu nhiều cho viêm gan C mạn tính genotype 1,2 và 3. Tuy nhiên rất ít nghiên cứu cho genotype 6 . Vì vậy mục đích của nghiên cứu này so sánh hiệu quả điều trị của hai phác đồ điều trị: phác đồ chuẩn (48 tuần) và phác đồ rút ngắn (24 tuần) cho genotype 6. Qua đó cũng xem xét các yếu tố tiên đoán đáp ứng siêu vi bền vững.
Xem bài viết